Nghi lễ cưới ngày nay.

Posted by webmaster on June 29th, 2007

Những nghi lễ cưới xin thời hiện đại cũng không thay đổi nhiều so với trước đây, thường gồm 3 lễ: chạm ngõ, ăn hỏi và cưới.

Chạm ngõ là cuộc gặp gỡ chính thức đầu tiên của hai gia đình. Trong lễ chạm ngõ thường có cơi trầu để “mở đầu câu chuyện”. Nhà trai thưa chuyện với nhà gái và xin phép cho đôi bạn trẻ được qua lại hai bên gia đình. Sau đó là đến lễ ăn hỏi (đính hôn).

Một lễ ăn hỏi thường có 5 hoặc 7 mâm gồm: trầu cau, rượu, thuốc, hoa quả, bánh kẹo. Loại bánh thường được sử dụng là bánh phu thê (hay còn gọi là susê) nhằm tượng trưng cho sự gắn kết vợ chồng. Ngày nay tục thách cưới cũng không còn phổ biến nhưng một số nhà trai vẫn chuẩn bị sẵn phong bì đỏ đựng tiền và để dưới mâm lễ đưa cho nhà gái. Số tiền này dù ít hay nhiều đều tượng trưng cho sự ‘biết ơn’ đối với công sinh thành, nuôi dưỡng và dạy dỗ của bố mẹ cô gái.

Giai đoạn cuối cùng là lễ cưới. Một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu của phần lớn các đôi uyên ương thời nay là ngày và giờ cưới. “Phú quý sinh lễ nghĩa” nên ai cũng muốn chọn được ngày cưới ‘đẹp’, tức là hợp với tuổi của mình để ngày vui thêm trọn vẹn. Do đó, chuyện thống nhất ngày cưới của hai gia đình đôi khi cũng trở nên khó khăn vì mỗi bên đều tự đi xem ‘thầy’. Nhưng rốt cục mỗi ‘thầy’ lại ‘phán’ một ngày cưới ‘đẹp’ khác nhau! Hơn thế nữa, với những cô dâu “Đinh, Nhâm, Quý, Giáp” thì nhà gái còn yêu cầu đón dâu tới… hai lần để tránh “hai lần đò”. Trong buổi rước dâu về nhà chồng, mẹ đẻ của cô dâu thường kiêng đưa con gái đi. Ở một số vùng nông thôn miền Bắc xưa còn có thêm tục lệ mẹ chồng ôm bình vôi sau góc bếp ‘trốn’ trong lúc con dâu mới bước chân vào nhà nhằm tránh mối quan hệ giữa mẹ chồng và nàng dâu trở nên “bạc như vôi”. Cho tới bây giờ những thủ tục đó cũng đã được lược giản.

Chuẩn bị trước khi đính hôn

Posted by webmaster on June 29th, 2007

Đầu tiên hãy nghĩ đến thời kỳ này như là khoảng thời gian thích hợp để bạn chia sẻ cuộc sống của bạn với một người khác giới. Đây cũng chính là lúc sự mơ mộng lãng mạn của một chuyện tình hoàn hảo đối mặt với “cú sốc” thực tế.

Bạn sớm phải đối mặt và lao vào giải quyết những vấn đề của đám cưới. Đừng tự tạo áp lực cho bản thân là phải thiết kế một sân khấu lộng lẫy hơn những ngày lễ hội, nếu việc đó hoàn toàn quá sức đối với bạn. Hãy chú ý đến hoàn cảnh của mình (chẳng hạn khả năng tài chính).

Thường khoảng thời gian giữa lễ đính hôn và lễ cưới là từ 6 tuần đến 18 tháng, nhớ rằng đây cũng chính là khoảng thời gian để chuẩn bị lễ cưới cho bạn, để cùng nhau thảo luận lại một lần nữa trước khi lễ cưới bắt đầu. Điều quan trọng bản thân bạn phải thấy vui, hạnh phùc với lễ đính hôn của mình. Sau đây là một vài lời khuyên có thể giúp ích cho bạn rất nhiều khi bạn chuẩn bị lên xe hoa.

Nói có

Những lễ đính hôn chỉ đòi hỏi một vài lời khuyên. Bạn chỉ cần nói “đồng ý” thì cũng có nghĩa là bạn đã chấp nhận một mối ràng buộc. Trái lại với suy nghĩ của nhiều người, đính hôn không đòi hỏi phải có nhẫn (một số người sử dụng tiền mua nhẫn cho những công việc khác cần thiết hơn).

Không có một thời gian quy ước chính xác nào cho việc đính hôn. Một số người cần 6 tháng, người khác lại cần 1 năm, 2 năm hay còn lâu hơn thế nữa. Một lễ đính hôn chắc chắn phải đi kèm trước đó rất nhiều sự chuẩn bị từ những việc sắp xếp, tiết kiệm tiền, hoàn thành việc học tập đến phấn đấu địa vị trong công việc, xã hội, vân vân….

Vì vậy nếu bạn đang trong sắp trở thành những “thành viên” này, hãy tham khảo thật kỹ trước khi đính hôn để tránh những cuộc chia tay không mong muốn.

Chia sẻ tin vui với mọi người

Bố mẹ bạn hay bất kỳ đứa trẻ trong nhà nào cũng nên à những người được biết đầu tiên niềm vui của bạn. Trong trường hợp đối với con trẻ, bạn nên nói cho chúng biết trước khi một ai đó thông báo với chúng. Sau đó chắc chắn rằng bạn bè thân, họ hàng cũng nhận được thông tin này. Những người thân nhất với bạn sẽ rất dễ bị tổn thương nếu họ biết tin này qua một người khác mà không phải từ bạn.

Gặp gỡ hai bên

Việc đính hôn của bạn không nên gây sốc cho bố mẹ. Thật là tuyệt nếu người bạn đời tương lai của bạn có mối quan hệ tốt với bố mẹ trong khi bạn còn hẹn hò với người ấy. Và đây chính là thời điểm thích hợp để bạn và người ấy cũng nhau đặt nền tảng mối quan hệ lâu dài trên cơ sở pháp luật. Đây cũng là lúc bố mẹ hai bên gặp mặt nhau. Theo truyền thống, bố mẹ chú rễ sẽ chủ động gặp bố mẹ cô dâu, họ tự giới thiệu mình và đưa ra lời mời. Tuy nhiên, ngày nay bố mẹ cô dâu có thể hẹn gặp trước.

Tài chính và danh sách khách mời

Tài chính của bạn sẽ quyết định đến hình thức phong cách đám cưới của bạn. Khả năng tài chính cũng ảnh hưởng đến độ dài danh sách khách mời. Hãy bắt đầu với lượng tài chính mà bạn có khả năng chi trả. Từ đó, mọi việc sẽ dễ dàng hơn rất nhiều để có thể cắt giảm chi phí cũng như lượng khách mời.

Một kế hoạch thực tế sẽ giúp bạn có một lễ đám cưới đúng như mong muốn. Bạn lo lắng về cảm giác bị tổn thương? Liệu bạn bè, đồng nghiệp có thích tới dự? Và họ có xem đó như là một bữa tiệc thân mật? Sau ngày vui của mình, bạn nên có một tấm thiệp cám ơn mọi người. Nó sẽ là bữa tiệc của tất cả những ai đến dự chứ không riêng mình bạn.

Hãy chọn địa điểm và ngày cưới

Bạn thực sự muốn lễ cưới được tổ chứ ở đâu? Bộ phận tiếp tân như thế nào? Bạn có thể cân nhắc thời gian cung 4như địa điểm tổ chức lễ cưới. Thường múa cưới rơi vào tháng 8 tháng 9, tháng 11, và tháng 12. Đây là thời gian các điểm cưới luôn trong tình trạng quá tải, giá cả lại tăng cao.

Với những ai muốn tổ chức lễ cưới ngoài trời thì lễ cưới nên vào những tháng ấm hơn như tháng 4, tháng 5. Và nếu bạn muốn lựa chọn một ngày để bắt đầu tuần trăng mật, hãy đưa mọi chi tiết, kế hoạch ở điểm tổ chức. Như vậy họ mới có thể sắp xếp dùm bạn một lịch trình thuận tiện được.

Một kế hoạch hoàn hảo cho một Đám Cưới hoàn hảo

Posted by webmaster on June 29th, 2007

www.damcuoi.com.vn

Kế hoạch phải phù hợp với khả năng tài chính của bạn, đừng quên dù là các chi tiết nhỏ nhất từ khi Dạm ngõ đến Lễ lại mặt.

Một kế hoạch hoàn hảo sẽ tránh được vấn đề mà các Cụ ta hay nói “Ma chê, cưới trách“. Bạn hãy mạnh dạn đưa ý tưởng, mong muốn của bạn và xây dựng thành kế hoạch thực hiện trong từng giai đoạn.

Kế hoạch chi tiết:
Trước 6 - 12 tháng
- Thông báo với gia đình ý định thành thân.
- Tìm hiểu kiến thức Pháp luật - Hôn nhân
- Lựa chọn địa điểm dự kiến tổ chức (vài ba địa chỉ)
- Xem lựa chọn kiểu nhẫn cưới
- Xem tham khảo ý kiến về trang phục cưới
- Lựa chọn nhà cung cấp dịch vụ cưới uy tín, Nhà tổ chức chuyên nghiệp
- Lựa chọn hình thức tổ chức (Xin ý kiến gia đình)
- Lên kế hoạch tổ chức

Trước 3 - 6 tháng
- Lựa chọn, thảo luận, đặt địa điểm cưới
- Thảo luận với các nhà tổ chức chuyên nghiệp
- Đặt may hoặc thuê áo cưới
- Mua đồ đạc cho gia đình mới
- Thảo luận về Tuần trăng mật
- Lựa chọn quay phim, chụp ảnh
- Kiểm tra các phương tiện vận chuyển, đường xá có liên quan.

Trước 1 - 3 tháng
- Hỏi thủ tục, chuẩn bị làm đăng ký kết hôn
- Đến một hãng du lịch nào đó đặt cho kỳ nghỉ Tuần trăng mật
- Đặt vé máy bay và các phương tiện vận chuyển khác
- Lên danh sách khách mời, đặt thiếp mời
- May hoặc thuê quần áo cưới
- Báo cáo với lãnh đạo, làm đơn chuẩn bị xin nghỉ
- Lên danh sách các bản nhạc tình yêu
- Đặt các nhà cung cấp dịch vụ

Trước 2 đến 4 tuần
- Kiểm tra lại địa điểm tổ chức
- Kiểm tra lại nguồn tài chính
- Gửi thiếp mời, báo Hỷ.
- Đăng ký kết hôn

Trước 1 tuần
- Ngồi lại cùng với gia đình kiểm tra lại mọi thứ.
- Thư giãn, nghỉ ngơi

Trước 1 ngày
- Hãy hình dung ngày mai là một ngày tuyệt vời đối với bạn
- Chú ý các đồ ăn (tránh bị đau bụng, rối loạn tiêu hóa)
- Hãy thư giãn và đi ngủ sớm.

Bạn hoàn toàn có thể tự lên Kế hoạch cho mình hoặc tìm đến Nhà tổ chức chuyên nghiệp để họ giúp bạn lựa chọn các nhà cung cấp dịch vụ và lên Kế hoạch chi tiết

Lễ tục cưới gả của người Việt

Posted by webmaster on June 29th, 2007

Hôn-Lễ ( Lễ Cưới )

Xưa gọi là Hôn-Lễ, vì nó có ý nghĩa riêng, vì theo lễ tục xưa người ta làm lễ cưới vào buổi chiều tối. Buổi chiều tối là lúc Dương qua Âm lại, âm dương giao hoán với nhau được thuần, cho nên dùng giờ này để làm Hôn-Lễ, tức là thuận theo lẽ tuần hoàn của trời đất.

Theo xưa thì có 6 lễ, phân ra như sau :

1. Vấn danh ( hay là cầu thân )

2. Sơ vấn ( hay là lễ sỉ lời )

3. Ðại đăng khoa ( lễ đám hỏi )

4. Sỉ lời ( tức là lễ hỏi thăm nhà gái đòi hỏi những lễ vật, tiền nong thế nào )

5. Lễ nạp tài và thăm con dâu Lễ tiểu đăng khoa ( tức là lễ cưới )

Theo như 6 lễ cưới hỏi, muốn nói cho có văn vẻ thì có 6 lễ như sau :

1.- Lễ Nạp Thái
2.- Lễ Vấn Danh
3.- Lễ Nạp Cát
4.- Lễ Nạp Chưng hay là Nạp Lệ
5.- Lễ Thỉnh Kỳ
6.- Lễ Thân Nghinh

1.- Lễ Nạp Thái

Theo tục lệ Trung Hoa thì sau khi nghị hôn rồi, nhà trai mang sang nhà gái một cặp “nhạn”. Sở dĩ đem chim nhạn là vì chim nhạn là loài chim rất chung tình, không sánh đôi hai lần. Tương truyền rằng loài chim nhạn rất thảo ăn, khi chúng nó gặp mồi thì kêu nhau ăn chung, vừa lúc đẻ trứng thì khi nở thế nào cũng có một con trống và con mái mà thôi. Khác với các loại chim khác, chim nhạn khi có một con chết thì một con còn lại cũng buồn rầu mà chết theo. Sau này, người Trung Hoa nào còn theo cổ lễ thì chỉ dùng ngỗng thay thế cho chim nhạn. (Loài ngỗng tuy ngông nghênh, nhưng rất chung tình).

2.- Lễ Vấn Danh

Là hỏi tên và họ của cô gái là gì, được bao nhiêu tuổi, đã có hứa hôn với ai chưa.

3.- Lễ Nạp Cát

Là sắm sửa lễ phẩm đem sang nhà gái cầu hôn. Tùy theo nhà giàu thì lễ quí, còn nghèo thì chút đỉnh gọi là.

4.- Lễ Nạp Chưng

Lễ Nạp Chưng hay là Lễ Nạp Tệ (”chưng” nghĩa là chứng, “Tệ” nghĩa là lụa) là lễ đem hàng lụa hay vật phẩm quí giá đến nhà gái làm tang chứng cho sự hứa hôn chắc chắn, rồi chỉ chờ ngày cưới dâu.

5.- Lễ Thỉnh Kỳ

Là Lễ xin định ngày giờ làm Lễ Cưới, nhưng ngày giờ cũng do bên trai định, rồi hỏi lại ý kiến bên gái mà thôi, song thế nào nhà gái cũng tùy ý bên trai.

6.- Lễ Thân Nghinh

Là đã được nhà gái ưng thuận, ngày giờ đã định của bên trai. Bên trai đem lễ vật sang làm lễ rước dâu về.

Ðây là hoàn toàn sáu lễ theo tục lệ xưa mà ngày nay đã gia giảm bớt rất nhiều.


Lễ Cưới Ngày Xưa

Sau khi làm lễ ăn hỏi rồi chừng năm ba tháng thì bên sui trai chọn ngày làm lễ cưới, gọi là lễ Tiểu Ðăng Khoa. Trước giờ làm lễ cưới thì có một lễ gọi là Lễ Viếng Sui và Thăm Dâu, lễ này đơn giản chỉ có ông mai và hai vợ chồng sui trai, cũng gọi là lễ sỉ lời lễ cưới. Lễ này, bên sui trai có cho cô dâu đồ nữ trang nhiều hay ít tuỳ theo khá giả thì khác hơn nhà nghèo, tuỳ phương tiện mà cho nàng dâu chút ít nữ trang. Bên nhà gái cho bên nhà trai sẽ đòi những lễ vật như thế nào, rồi đàng trai cho bên nhà gái biết ngày giờ sẽ làm lễ cưới dâu về nhà trai.Ông bà ngày xưa xem ngày cẩn thận, xem trong sách Ngọc Hạp và Thông Thơ, rồi tra lại ngày giờ trong lịch Ðại Bản, chọn được những ngày Nhân Chuyên, Sát Cống và Bất Tương mới làm lễ cưới.

Trước khi làm Lễ Cưới phải đến sở tại, biên tên họ hai đàng sui gia và chàng rể, nàng dâu, tại văn phòng chánh lục bộ (trình bát nhựt) bây giờ thì gọi là Uỷ viên Hộ tịch.

Hội đồng xã dán bố cáo nơi trụ sở 10 ngày, sau khi hai đàng làm lễ cưới. Sự trình khai như vậy để đề phòng có ai ra ngăn cản gì không và cũng chứng tỏ cuộc hôn lễ ấy được trong sạch hoàn toàn, bên trai và gái vẹn toàn tiết hạnh.

Lễ Cưới - chàng rể mặc áo rộng xanh, bịt khăn đen, có che lộng. Còn nàng dâu cũng mặc áo rộng, đội nón thúng, cũng có lộng che, ở Nam Việt còn gọi là “nón cụ quai tơ” và khảm vàng xanh quai.

” Còn duyên nón thúng, quai thau khảm vàng “

Lễ vật chánh gồm có một đôi đèn, khay trầu, rượu, lễ này có sáu miếng trầu và sáu miếng cau.(có ý nghĩa là đủ sáu lễ). Ðôi mâm trầu, một ché rượu, nhưng ở bên nhà gái cầu kỳ muốn đòi một con heo cưới, và nài phải đi hôm ấy, thì bên nhà trai phải đóng củi khiên đi theo với họ đàng trai, trong khi làm lễ rước nàng dâu; mâm trầu cũng có hai người khiêng, ché rượu cũng có hai người khiêng. Còn như đàng trai điều đình thế tiền con heo cho bên nhà gái thì hôm ấy khỏi phải khiên con heo trong củi.

Vì sao mà nhà gái cầu kỳ như vậy ? Vì bên nhà gái chứng tỏ rằng nhà gái cũng đủ sức mua heo để thết tiệc, chứ không phải thiếu thốn chi, nhưng theo lễ thì phải có. Về sau này, người ta nhận thấy sự khiêng heo đi bất tiện, nên người ta điều đình thế tiền (tục lệ này bãi bỏ từ hơn 60, 70 năm nay).

Lễ Cưới ở nước ta tuy hiện là đời mới, nhưng lễ chánh là trầu cau và đôi đèn là cần lắm. Ngày xưa bên nhà trai mang sang nhà gái một đôi đèn để làm lễ Từ Ðường, thì bên nhà gái cũng sắm sẵn đôi đèn hẳn hoi để đáp lại, gọi là cặp đèn “Tống Hôn”. Nếu hai bên sui gia thuộc hạng sang trọng thì bên nào cũng cố gắng làm một cặp đèn cho tuyệt đẹp, có bông hoa rất là thẩm mỹ.

Lễ Cưới thì bên trai tuỳ theo nhà gái như đủ phương tiện thì người đi rước dâu đông đảo lắm, và cũng liệu đường đi xa thì có dùng tiệc bên nhà gái. còn như ở gần thì bên trai xin để uống nước rồi rước dâu. Bên sui trai cũng muốn đãi nhà gái bữa tiệc ấy cho đúng đắn đầy đủ sự trọng vọng và thân tình. Nếu như bên trai có nhiều bà nhiều cô khéo léo, thì hôm ấy là buổi thi đua nấu nướng những món ngon vật lạ, bánh trái ê hề. Có nhiều nhà giàu hồi xưa “vắt chảy ra nước”, thường thường cho những bạn bè ăn những cơm hẩm canh dư, năm giờ sáng đã ra đồng cuốc đất, sáu bảy giờ tối mới về đến nhà mà chưa rồi công việc, chớ trong mấy ngày này cũng được no nê thả cửa.


Ý NGHĨA CHE “LỌNG”

Ðám cưới, đám hỏi hồi xưa mà che lọng là để che lễ phẩm, tỏ ý trịnh trọng cuộc lễ ấy có ý nghĩa trang nghiêm tạo thành gia thất rất quan trọng, chớ không phải che cho cá nhân của người đi cưới vợ. Vì hồi xưa, nước VN còn chế độ quân chủ, từ bậc vua chúa cho đến vương hầu và quan đại phu mới được đi lọng. Còn bậc tu hành thì từ bậc hòa thượng sắp lên cũng được che lọng trong những cuộc lễ long trọng. Như đám ma thì bực có chức tước mới có chưng lọng. Ở làng xã thì từ bực chủ cả, chủ sắp lên khi chết mới được chưng lọng.
” Lọng che sương dầu s ườn cũng lọng, “
” Cái ô bịt vàng đầu trọng cũng ô. “

THƠ TÍCH TRẦU CAU

Có hai anh em giống nhau

Giống cho đến đổi chị dâu phải lầm

Người em thấy vậy thương tâm

Bỏ đi rủi bị cõi âm hồn về

Thấy em mất anh thảm thê

Ði theo đến đó hôn qui diêm đài

Vợ chồng đi kiếm tới nơi

Hỏi ra sự tích thảm thê vô cùng

Truyền rắng trong cuộc hôn nhân

Trầu Cau dùng lễ nghĩa nhân mới nồng
LÊN ÐÈN

Thường thường, để lên đôi đèn Ðám Cưới hay Ðám Hỏi người ta hay cậy người có tuổi đủ vợ đủ chồng, con đông thì quí…

RÓT RƯỢU

Rót rượu trong chung hay trong ly để cúng quải, hay là trình lễ, nếu như tay nào sành rượu và được thứ rượu đế chánh cống, khéo tay rót chầm chậm và có đóng bọt đều đều thì hay lắm !

ÐẦU HEO VÀ NỌNG HEO

Khi nói về lễ cưới mà không nhắc đến ” Ðầu heo ” thì thật là thiếu sót ! Theo tục lệ nào thì cũng có làm heo, nhà giàu sang thì làm thêm cả bò to, nhưng rất kỵ là không khi nào họ làm dưa giá, vì sợ chuyện góa bụa sau này của đôi lứa. Về con heo thì bữa chiều nhóm họ bên trai, thì kiến Ông Mai cái đầu heo và dĩa lòng bộ, Ông Mai nào cũng tỏ ra mình không thèm nhận lễ ấy, và cũng không chú rể nào dám bưng cái lễ ấy trở vào nhà bao giờ. Nghĩa là Ông Mai phải nhận cái đầu heo ấy… Còn cái nọng heo thì kiến lễ Ông Thầy xem tuổi và xem ngày cưới. Cũng có dĩa lòng bộ, có ông thì chỉ nhận dĩa lòng bộ, còn cái nọng heo thì xin kính lại để đãi đằng khách khứa, nếu như ông ấy nhận hết thì thôi. Cái lễ chót của người đi cưới vợ mà đi lễ Ông Mai lần này là lần cuối cùng, và cũng từ đây người ta bắt đầu quên hẳn Ông Mai…

LỄ NHỊ HỈ

Lễ nhị hỉ là qua ngày sau lễ cưới, sáng sớm đôi vợ chồng sửa soạn đi trở về bên nhà gái. Thường thường nhà trai gửi qua nhà gái một cặp và lít rượu, cùng là trà bánh do con dâu mang đi cùng với chàng rể trở về nhà bên vợ. Khi đến nhà vợ thì cũng có nấu nướng và mời bà con láng giềng dự tiệc. Theo như lễ này có ý nghĩa rất hay, vì chàng rể chưa được quen thân với bà con cô bác bên vợ, cho nên có lễ này để cho chàng có dịp làm quen với thân nhơn bên vợ; và giở mâm trầu cau của bên trai đưa sang hôm làm lễ cưới. Sau khi giở mâm trầu thì chính cô dâu đi biếu trầu cau cho bà con cô bác bên nàng và tỏ lời cám ơn những người đã có công giùm giúp trong những ngày nàng sửa soạn vu quy. Sau khi đi biếu trầu cau và cơm nước xong rồi, thì chiều lại chàng và nàng trở về bên nhà chồng; chàng đi trước nàng đi sau, thỉnh thoảng chàng quay lại nhìn nàng bằng đôi mắt yêu thương nồng thắm… Nếu như bên chàng và nàng là nhà khá giả thì cũng được thong thả hưởng tuần trăng mật. Nhưng không có đi xa như Ðà Lạt, Nha Trang như thời đại bây giờ, mà chỉ dành thì giờ đi thăm bà con hai bên đều đủ. Còn như nghèo, thì phải lo làm việc để trả nợ nần vay mượn trước khi làm lễ cưới. Theo đúng lễ thì có cả Ông Bà sui trai và Ông Mai đi dự lễ nhị hỉ để giở mâm trầu, mà chính tay Ông Mai là người giở mâm trầu ấy.


Ông Mai… Bà Mai…

Trong cuộc Hôn Lễ có ông mai và bà mai, bà mai tiếng ở miền Bắc gọi là mụ mối. Ông mai, bà mai rất có công trong cuộc tạo thành gia thất của đôi nam nữ sau này. Nhưng, vậy mà người đời cũng có những câu mỉa mai hơi vui như vầy :

” Trong đời có bốn cái ngu, “
” Làm mai, lãnh nợ, mồi cu, cầm chầu. “

Ông mai, bà mai - thường thường người ta lựa người có tuổi tác, đủ vợ đủ chồng, và cũng thường gầy dựng cho nhiều đôi vợ chồng được hoàn toàn.

Bên nhà trai biên canh thiếp tên họ và mấy tuổi của người con trai đưa sang nhà gái, dĩ như nhà gái bằng lòng cho đi coi mắt thì nhà gái cũng trao canh thiếp cho biết cô ấy tên họ gì, mấy tuổi, sanh tháng nào.v.v… Vì hồi xưa một họ với nhau gọi là đồng tông tộc, họ không khi nào cưới hỏi lấy nhau. Chớ không phải nông nổi như bây giờ, mà bà con có khi lấy nhau bậy bạ.

Lễ đầu tiên trao canh thiếp là Lễ Vấn Danh hay là cầu thân. Lễ thứ hai là Lễ Sơ Vấn, tức là Ông Mai đến nhà gái xin cho biết nhà trai bằng lòng kết tình thông gia với nhà gái, và xin cho bên nhà gái biết ngày làm lễ đám hỏi mà chữ gọi là Ðại Ðăng Khoa. Lễ Ðám Hỏi tuy vậy mà quan trọng hơn lễ cưới, có nơi còn gọi là ” Hàng Rào Thưa “. Trong lễ này, lễ vật trọng yếu là một đôi bông tai ( đôi bông tai ví như cái ” Hoa ” con gái), trầu cau và một đôi đèn là lễ vật chánh, còn những vật phẩm khác như trà, bánh, rượu là phụ thuộc; nhà giàu sang thì bông tai hột xoàn, hoặc thêm dây chuyền hay vòng vàng cũng được. Thường thường lễ hỏi thì bên nhà gái có mời bà con thân thuộc trước một bữa thiết tiệc đãi đằng. Cho nên có khi người ta nài bên trai phải đài thọ, lễ ấy nhiều tiền hay ít do hai bên thỏa thuận. (Hồi xưa, con heo đám hỏi nhiều lắm là 20 đồng bạc.)

Lễ đám hỏi bên nhà trai qua nhà gái ít người bà con thân thuộc, lẽ cố nhiên là có ông mai, bà mai, ông sui trai và bà sui trai. Như nhà khá giả thì có người phục rể, người phụ rể thì bưng khay trầu rượu. lễ này có têm bốn miếng trầu cau, hai cái chung.

Hồi xưa, đám cưới, đám hỏi người ta rót rượu bằng cái chung miệng tròn, có ý nghĩa ” Thủy chung như nhất “; còn đựng rượu thì dùng cái bầu có ba khía gọi là cái ” Cô “, chứ không phải dùng cái nhạu rượu như bây giờ. Bộ khay hộp gồm có bốn miếng trầu cau và rượu, chú rể mang cái quả đỏ trong ấy có một đôi bông tai cho nàng dâu, và ngoài cái quả là cặp đèn để đốt cúng ông bà bên gái.

Lễ này, chú rể mới của nhà gái có mặc áo rộng ( áo thùng ) bên ngoài. Trong khi họ nhà trai đến nhà gái thì để Ông Mai vô nhà trước, rồi đến ông sui trai, bà sui trai và họ hàng đi tiếp theo sau. Chú rể đi vô sau, khi bước vào chú rể nên đi chậm rãi và cúi đầu chào họ hàng bên nhà gái. Khi bên nhà gái mời quan khách an tọa xong, rồi thì đoạn Ông Mai trình bày lễ phẩm của nhà trai đem sang và lên đèn để cho chú rể làm lễ (Từ Ðường) và họ hàng bên gái. Chú rể mới không được ngồi chung với quan khách trong khi chưa làm lễ Từ Ðường và họ đàng gái.

Sau khi trình lễ xong rồi thì bên gái mời vị nào lớn hết trong họ hàng mở cái quả đỏ có để đôi bông tai cho nàng dâu của nhà trai, trong giai đoạn này thì bên nhà gái cho gọi cô dâu ra nhận lễ và chào mừng họ hàng nhà chồng. Cô gái bẽn lẽn nhận lễ và mừng thầm…

Sau khi lễ này xong rồi thì chú rể mới chính thức xưng hô là con rể của nhà gái. Tiệc tùng viên mãn tự nhiên, họ đàng trai xin kiếu ra về, chú rể ở lại về sau, nếu như đường sá xa xôi bất tiện thì bên gái cũng cho phép chú rể về theo một lượt với họ nhà trai. Khi quan khách kiếu từ ra về, cô dâu mới cũng ra đưa khách và cha mẹ chồng tương lai một cách thích thú và vui mừng. Như vậy là xong lễ hỏi vợ.

Sau khi xong lễ đám hỏi, cô dâu tương lai sẽ đi biếu trầu cau và quà bánh của nhà trai cho họ hàng lối xóm. Ý của người xưa bày ra như vậy có nghĩa là cho trong láng giềng biết rằng con gái mình sắp có nơi trao thân gửi phận.

Sau khi xong lễ hỏi rồi, cứ mười lăm ngày thì chàng rể tới nhà cha mẹ vợ thăm viếng một lần, nhằm ngày Mùng 1 và Ngày Rằm, sự thăm viếng này để cho chàng và nàng quen nhau, vì hồi xưa trai gái ít được tự do như bây giờ. Ðến mùng 5 và ngày Tết, chàng rể luôn luôn đi tết quà bánh bên nhà gái và Ông Mai; và có cuộc lễ gì quan trọng thì hai đàng sui gia mời nhau luôn.

Chàng rể mới đi trình diện bên nhà gái mà tục gọi là “Ði làm rể”, một sự thích thú của thanh niên thôn quê hồi xưa, sự sung sướng nhất đời là ngày đi đến nhà cha mẹ vợ thăm người bạn chăn gối tương lai của mình.

Chàng rể “đi làm rể” luôn luôn mặc áo dài, đầu bịt khăn xéo, không bịt khăn đen. Nhưng, như vậy khi đến nhà cha mẹ vợ gặp việc gì nặng nhọc, chàng cũng làm giúp hẳn hoi. Sự đi làm rể như thế, chừng nào ông già vợ hoặc bà già vợ cho về thì mới được về./.


Nghi thức Hành Lễ khi rước dâu về nhà chồng

Hồi xưa, có lắm người chọn lễ nghi được vẹn toàn, thì có đặt cái bàn trước cửa, có chưng bông hoa, nhang đèn và trái cây “Ngũ Quả” ( 5 thứ trái cây như là đu đủ, mãng cầu, thơm, dừa, trái xung hoặc là xoài) v.v… Cái bàn này gọi là bàn “Ðiện Nhạn”, nó có ý nghĩa là đảo cáo Hoàng Thiên và Hậu Thổ cho đôi vợ chồng mới được kết tóc đến già, làm ăn thịnh vượng v.v…

Trước khi Chú Rể và Cô Dâu vào nhà thì đứng ngay bàn ấy, xá, cúi đầu rồi mới vào nhà. Lễ này hiện thôn quê vẫn còn, ở thành phố thì ít ai làm, mà cũng ít người biết.

Khi vào nhà, Ông Sui Trai và Ông Sui Gái đứng hai bên bàn thờ chứng kiến cho chú rể và cô dâu làm lễ Từ Ðường.

Lễ Từ Ðường xong, Ông Sui Trai hay người đại diện bên trai mời quan khách an tọa (cô dâu luôn luôn đứng cạnh chú rể ). Giai đoạn này, Ông Mai ngồi vớ quan khách đoạn Ông Sui Trai đi trước dẫn đường và rót rượu, chú rể và cô dâu đi theo.

Nếu như trong nhà có các bậc trưởng thượng, như ông bà, cô bác, chú dì, thì ông sui trai dẫn chàng rể và cô dâu đến lạy ( bực lớn thì hai lạy, anh chị lạy một lạy, còn lạy bàn thờ thì bốn lạy ).

Theo phép thì lạy cha mẹ rồi mới lạy ông mai, nên có câu: “Tiền bái phụ mẫu, hậu bái mai nhơn”. Nhưng ông sui bận việc dẫn con và dâu đi làm lễ, hơn nữa ông mai cũng còn nhỏ tuổi hơn những bậc trưởng thượng trong nhà, nên nhường lại cho bậc lớn hơn.

Còn như trong nhà không còn bực trưởng thượng nào nữa, thì ông sui trai phải dẫn con và dâu đến trước ông mai và bà mai, rót rượu và nói như vầy:

“Kính thưa anh và chị, cũng nhờ anh chị có công tác thành giai ngẫu cho hai trẻ thành đôi lứa, ngày nay, mọi việc được mỹ mãn, kính xin anh và chị dùng chung rượu để cho hai cháu nó lạy gọi là đền đáp công ơn anh chị cực nhọc với cháu v.v…”

Rồi sau mới đi lạy bà con cô bác, tự nhiên cô bác bên chồng sẽ có cho tiền cho cháu dâu mới.

Còn muốn cho khỏi sự phiền hà, thì sau khi làm lễ Từ Ðường xong rồi, nên ra lễ ông mai trước đã, chừng nào ông mai từ chối bão làm lễ cô bác rồi sẽ tới ổng thì hãy hay. Ông mai chỉ trình những lễ phẩm của bên trai đem qua bên gái, còn việc dẫn nàng dâu lạy họ hàng bên chồng là bổn phận của ông sui trai (còn dẫn chàng rể đi lạy bà con bên nhà gái là bổn phận ông sui gái).

Vì theo lễ cưới hỏi, sự chịu lạy là một lễ khá quan trọng, người vai lớn mời trước, người vai nhỏ mời sau; nếu sơ hở chuyện này thì bị phiền trách này nọ. Chỉ có người trong thân thuộc mới biết thông thạo mà mời thỉnh mới đúng.

Còn ông mai khi trình các lễ phẩm thì thế nào cũng nói: “Kính thưa quí bổn tộc và quí quan khách v.v…Hôm nay là ngày lễ cưới của con của Ông X… là cậu ….. cưới con Ông Y… là cô…., bên Ông X… có cho nàng dâu một đôi bông, một sợi dây chuyền, … và sáu quả bánh, hai quả trà và đèn, cùng trầu rượu v.v…

Hồi xưa, thì dùng tiếng “Hương Chức”, bây giờ thì dùng tiếng “Quí quan khách” là phải hơn. Xưa có câu tục ngữ “phép vua thua lệ làng”. Thì đủ biết Làng oai biết dường nào. Bởi thế nên lễ nào mà không thưa với làng trước thì bị phạt vạ.Trong khi cô dâu mới về nhà chồng, từ lúc làm lễ Từ Ðường và ông bà, cô bác bên chồng. Lúc đó, cả nhà đều chăm chú xem mặt nàng dâu, kẻ khen ngộ người khen đẹp, rồi cũng có người kiếm chuyện bắt bẻ một vài điều sơ sót. Thông bịnh của thiên hạ là giữa chỗ đông người, ai cũng muốn tỏ ra mình là người sành việc!


4 chữ “Cửu Huyền Thất Tổ” mang ý nghĩa gì trong văn hoá Việt Nam

1) Ý nghĩa của bốn chữ “Cửu Huyền Thất Tổ”

Nếu tra cứu qua các từ điển Phật học và Hán học, và các bộ từ điển lớn của Trung Hoa, ta cũng không thấy từ nguyên của bốn chữ này. Như chúng ta biết, phần lớn các thuật ngữ Hán Việt đều được người Việt tiếp thu thông qua các cuộc giao lưu văn hoá hoặc tôn giáo Hán Việt qua nhiều thời đại. Nhưng bốn chữ này, chúng tôi nghĩ là do các nhà Sư Việt Nam sáng tạo, không hề chịu ảnh hưởng văn hoá của Phật giáo Trung Quốc hoặc Ấn Độ.

Không biết bốn chữ nầy được xuất hiện trong văn bản nào sớm nhất, nhưng theo chỗ chúng tôi biết, bốn chữ này xuất hiện trong tác phẩm Sự Lý Dung Thông viết bằng thể thơ song thất lục bát của Thiền sư Hương Hải (1728-1815) được Tiến sĩ Lê Mạnh Thát đã dày công biên khảo và dịch lại, cho in chung trong Toàn Tập Minh Châu Hương Hải (Nhà Xuất bản TP. HCM, 2000). Phía sau cuốn sách có in toàn bộ tác phẩm và ngữ lục của Thiền sư bằng chữ Hán. Tác phẩm Sự Lý Dung Thông (trang 416) cũng nằm trong phần phụ lục này, có đề cập đến bốn chữ này trong hai câu thơ :

“Thích độ nhân miễn tam đồ khổ
Thoát cửu huyền thất tổ siêu phương “

(Nghĩa là giáo lý đức Phật Thích Ca hoá độ chúng sanh để thoát khỏi ba đường khổ: địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh, và có khả năng cứu thoát cửu huyền và thất tổ được siêu thăng).

Có lẽ vì câu trên quá cô đọng nên bản Việt ngữ của Tiến sĩ Lê Mạnh Thát (trang 392), vẫn giữ nguyên như vậy, và phần dưới có chú thích ngắn gọn về bốn chữ “cửu huyền thất tổ” như sau:

Cửu huyền : Chín đời: Cao, tằng, tổ, cha, mình, con, cháu, chắt, chít.
Thất tổ : Bảy đời: Cao, tằng, tổ, cao cao, tằng tằng, tổ tổ, cao tổ.

Mặc dầu trong các từ điển, chúng tôi không thấy có chữ “huyền” nào có nghĩa là “đời” cả, nhưng qua quá trình Việt Hoá, chữ nầy được hiểu như là “đời”, và có lẽ nên dịch là “thế hệ” thì chính xác hơn.

Chín thế hệ trên, nếu phiên âm bằng chữ Hán thì được viết như sau :
Cao - Tằng - Tổ - Khảo - Kỷ - Tử - Tôn - Tằng - Huyền

Như vậy, nếu lấy thế hệ mình làm chính thì tính ngược lên bốn đời và tính xuống bốn đời thành ra chín đời.

Một vị Hoà Thượng mà người viết có duyên học hỏi đã giải thích rằng, sở dĩ gọi chữ “Huyền” ở đây vì chữ “Huyền” trong “cửu huyền” này vốn có nghĩa là “đen”, vô lượng kiếp chúng sanh luân hồi sống chết, khi thân xác này rã rời, phân ly, trả về cho tứ đại, những chất tinh tuỷ xương máu và thịt tan rã, huỷ hoại đều biến thành màu đen nên gọi là “huyền”. Bởi chín thế hệ vần xoay, sống chết như vậy nên gọi là “cửu huyền”.

Thất Tổ có nghĩa là bảy ông tổ. Tổ là ông nội của đời mình; đi ngược lên sáu đời nữa gọi là thất tổ

Như vậy, chữ “cửu huyền” bao quát hơn chữ “thất tổ”. Vì “thất tổ” chỉ cho các thế hệ đi trước, còn “cửu huyền” không những chỉ cho bốn thế hệ trước mà còn nhắc đến bốn thế hệ sau nữa. Chính vì vậy, nơi thờ phụng những vị quá vãng còn được gọi là “Nhà Thờ Cửu Huyền” (viết bằng tiếng Việt), thỉnh thoảng dùng bốn chữ “Cửu Huyền Thất Tổ” (viết bằng chữ Hán). Quý Tăng Ni miền Nam và miền Bắc cũng dùng cụm từ này để chỉ cho nơi thờ ông bà, cha mẹ mình nhiều đời, nhưng không phổ biến rộng rãi, các vị thường dùng từ “hương linh” chỉ người đã khuất, và nơi thờ các hương linh ấy được gọi là “bàn linh”. Các tịnh xá thuộc hệ phái Khất Sĩ dùng từ “Cửu Huyền” hoặc cả “Cửu Huyền Thất Tổ” chỉ cho nơi thờ những người đã quá vãng.

2) “Cửu Huyền Thất Tổ” trong nền văn hoá Việt Nam

Theo cách nhìn tổng quát, văn hóa có hai phần đặc trưng, đó là văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần. Nền văn hóa vật chất bao gồm các lĩnh vực thuộc khoa học kỹ thuật. Văn hóa tinh thần bao gồm các lĩnh vực thuộc học thuật, tư tưởng, tôn giáo và các loại hình giải trí, nghệ thuật.

Cách biểu hiện lòng tôn trọng, nhớ ơn và biết ơn ông bà cha mẹ nhiều đời nhiều kiếp qua việc thờ cúng của người Việt Nam thuộc loại hình văn hoá tinh thần. Cách tôn kính, thờ cúng này không phải ở Việt Nam mới có, mà từ thuở nhà Hạ (2205-1767 TCN), Thương / Ân (1766-1112 TCN), Chu (1111–221 TCN) bên Trung Hoa cũng đã có nghi lễ thờ cúng ông bà tổ tiên rồi. Các vua chúa thường đi tế Giao (cúng trời đất) ở một nơi được xem là linh thiêng, hoặc cúng tổ tiên trong Thái Miếu.

Nền văn hoá Việt Nam thời cổ và trung đại cũng vậy. Các vua chúa thường đi cúng tế nơi Thái Miếu, nơi đền thờ các vị khai quốc công thần. Còn người dân dã thì thường thờ ông bà cha mẹ tại nhà và làm lễ cúng giỗ hàng năm.

Văn hoá Việt Nam, dù trải bao thăng trầm lịch sử, nhưng đạo lý:

“Sang đò nhớ ơn người chèo chống, nằm võng nhớ ơn người mắc dây”

vẫn được khắc sâu trong tâm khảm người Việt, vẫn ấm áp trong tiếng hát hời ru con muôn thuở:

“Nước chảy ra thương cha nhớ mẹ
Nước chảy vào thương mẹ nhớ cha”.


Cô dâu trước khi về nhà chồng phải có những thủ tục, động tác gì ?

Khi nhà trai bắt đầu đến đón dâu thì cô dâu cùng với chú rể đến trước bàn thờ gia tiên, khấu đầu làm lễ, tự khấn niệm xin tổ tiên chấp nhận kể từ nay nên vợ nên chồng, phù hộ cho trăm năm duyên ưa phận đẹp, cầm sắt giao hoà. Cũng có thể nhờ gia trưởng khấn hộ cho có bài bản hẳn hoi. Lễ xong, hai người đưa hộp trầu, bao thuốc, đi mời chào thân nhân, khách, bạn khắp một lượt, người nhà sau, những đám cưới có tổ chức thường đã có sự sắp xếp vị trí sẵn. Trong khi chào mời, cô dâu phải giới thiệu cho chàng rể biết mối quan hệ để biết cách xưng hô.

Sau cùng, trước khi bước ra cửa để về nhà chồng là lễ tạ cha mẹ: Cha mẹ ngồi sẵn một phía ở cửa chính, nếu ông bà nội ngoại còn thượng tại có đến dự thì ông bà cũng ngồi chung một phía, nhưng ở ghế cao hơn. Thời xưa cả đôi tân hôn phải lạy hai lạy, ngày nay châm chước, cúi đầu cung kính “Xin phép ông bà, cha mẹ con về nhà chồng”, “Xin phép ông bà, cha mẹ con xin đón em X về”. Lúc đó, cha mẹ ban phát cho con gái, con rể một vật gì đó làm kỉ niệm, có thể là nột cái bút, một g­ơng soi nho nhỏ, một cuốn sách hoặc một chiếc khăn, chiếc quạt…. Nhà giầu còn cho thêm hoa tai, nhẫn cưới hoặc quan tiền… (Chú ý, những thứ này nhà trai đã đưa đến hôm lễ nạp tài. Trong gói quà của bà mẹ cho con gái có cái châm cài tóc, hoặc bảy chiếc kim đính tóc hoặc kim khâu gói trong khăn vuông).

Ðối với ông bà cũng có những động tác tương tự.
Lễ vấn danh có ý nghĩa gì?

“Lễ vấn danh” là lễ nhà trai đến nhà gái để hỏi tên tuổi cô gái, ngày nay gọi là lễ “Chạm ngõ” hay là lễ “Dạm” (có nơi kiêm cả lễ dạm và hỏi cùng một lúc gọi là lễ dạm hỏi). Truyện Kiều có câu “Tiện đưa canh thiếp trước cầm làm ghi”. “Canh thiếp” là giấy ghi họ tên, tuổi, quê quán, con ai.

Trước Cách mạng Tháng Tám 1945, ở nhiều vùng nông thôn, con gái từ khi sinh đến khi lấy chồng vẫn chưa đặt tên, nếu như gia đình không cho con gái đi học. Con gái không cần vào sổ họ, sổ làng, không đi học nên cũng không cần dặt tên vội. ở trong nhà con gái mới sinh ra được gọi là con Hĩm, con Mực, con Chắt em…Trong nhà gọi tên gì thì xóm giềng gọi theo tên đó. Ðến làm lễ vấn danh, ông bác hoặc bố mới đặt cho cái tên để ghi trong giấy hôn thú, có khi chính người mang tên cũng không biết mình mang tên gì trong giấy hôn thú, vì khi về nhà chồng lại gọi theo tên chồng, khi có con gọi theo tên con, có cháu đích tôn gọi theo tên cháu. Lễ vấn danh không phải để hỏi tên mà chủ yếu là hỏi tuổi, để hai họ quyết định đôi nam nữ hợp tuổi nhau thì lấy được nhau, tuổi xung khắc thì thôi.

Lấy vợ kén tông, lấy chồng kén giống có đúng không? Có cần thiết không?

Ðối với các cụ thì câu hỏi này thừa, vì “Nòi nào giống ấy”,”Cây nào quả ấy”,”Giỏ nhà ai quai nhà ấy”,”Con nhà công chẳng giống lông cũng giống cánh”, “Tìm nơi có đức gửi thân”, ai chẳng muốn có trai hiền gái đảm, rể thảo dâu hiền. Thời nay, một số bạn trẻ coi thường cho là phong kiến lạc hậu. Có những đôi trai gái mới chỉ gặp nhau trên một đoạn đ­ờng, đã vội đính ước, tính chuyện vuông tròn, thậm chí họ đã biết rõ cả “Ngọn nguồn lạch sông”!!!Ðành rằng cũng có trường hợp “Một ngày nên nghĩa, chuyến đò nên duyên”, song thành công là cá biệt, thất bại là phổ biến.

“Tìm tông, tìm họ” không có nghĩa là tìm chốn sang giàu, khinh người nghèo khó, mà chủ yếu là tìm nơi có gia giáo, có đức độ.

Lễ xin dâu có những ý nghĩa gì? Và thủ tục tiến hành.

Lễ này rất đơn giản: Trước giờ đón dâu, nhà trai cử một hai người, thường là bà bác, bà cô, bà chị của chú rể đưa một cơi trầu, một be rượu đến xin dâu, báo trước giờ đoàn đón dâu sẽ đến, để nhà gái sẵn sàng đón tiếp.

Phong tục này có nhiều ý nghĩa hay:

Mặc dù hai gia đình đã quy ước với nhau từ trước về ngày giờ và thành phần đưa đón rồi, nhưng để đề phòng mọi sự bất trắc, mọi tin thất thiệt, nên mới định ra lễ này, biểu hiện sự cẩn trọng trong hôn lễ.

Thời gian này chú rể và cha mẹ chú rể rất bận rộn không thể sang nhà gái, nên nhờ người đại diện sang báo trước như bộ phận “Tiền trạm”.

Ðể trong trường hợp vạn nhất hoặc do thời tiết, hoặc do trở ngại giao thông, gần qua giờ quy ước mà đoàn đón dâu chưa đến, nhà gái biết để chủ động làm lễ gia tiên hoặc phái người sang nhà trai thăm dò.

Trường hợp hai gia đình cách nhau quá xa hoặc quá gần, hai gia đình có thể thoả thuận với nhau miễn là bớt lễ này, hoặc nhập lễ xin dâu và đón dâu làm một.

Cách nhập lễ xin dâu và đón dâu tiến hành như sau:

Khi đoàn đón dâu đến ngõ nhà gái, đoàn còn chỉnh đốn tư trang, sắp xếp lại ai đi trước, ai đi sau, trong khi đó một cụ già đi đầu họ cùng với một người đội lễ (một mâm quả trong đựng trầu cau, rượu… )vào trước,đặt lên bàn thờ, thắp hương vái rồi trở ra dẫn toàn đoàn vào làm lễ chính thức đón dâu. Lễ này phải tiến hành rất nhanh. Thông th­ờng nhà gái vái chào xong, chủ động xin miễn lễ rồi một vị huynh trưởng cùng ra luôn để đón đoàn nhà trai vào.
Lễ lại mặt có ý nghĩa gì?

Lễ thành hôn, tơ hồng, hợp cẩn xong xuôi, hai vợ chồng tân hôn trở về nhà gái mang theo lễ vật để tạ gia tiên ông bà cha mẹ, đi chào họ hàng thân nhân bên nhà gái sau đó đón bố mẹ và vài thân nhân sang nhà chú rể. Kể từ buổi đó, mẹ cô dâu mới chính thức tới nhà chú rể và nhà thông gia, vì trong lễ cưới, mẹ cô dâu (có nơi cả bố) không đi đưa dâu. Lễ lại mặt thường tiến hành vào ngày thứ hai hoặc thứ tư sau ngày cưới (gọi là nhị hỷ hoặc tứ hỷ) tuỳ theo khoảng cách xa gần và hoàn cảnh cụ thể mà định ngày. Thành phần chủ khách rất hẹp, chỉ gói gọn trong phạm vi gia đình.

Phỏng theo tục cổ Trung Quốc: nếu trong lễ lại mặt, có cái thủ lợn cắt lỗ tai tức là ngầm báo với nhà gái rằng nhà trai trả lại, vì con gái ông bà đã mất trinh (Ðêm tân hôn có lót giấy bản, gọi là giấy thám trinh, để xem người con gái còn trinh tiết hay không. Nếu còn trinh thì trên giấy bản sẽ có mấy giọt máu. Mã Giám Sinh sau khi cưỡng ép phá trinh nàng Kiều xong dùng “Nước vỏ Lựu”, “Máu mào gà” hòng lường gạt làng chơi tưởng nhầm là Kiều vẫn còn trinh).

Trường hợp hai nhà xa xôi cách trở, ông già bà lão thì nên miễn cho nhau, cô dâu chú rể nếu bận ông tác cũng nên được miễn thứ. Nếu điều kiện cho phép thì nên duy trì, vì lễ này mang nhiều ý nghĩa tốt đẹp:

-Nhắc nhủ con đạo hiếu, biết tạ ơn sinh thành, coi bố mẹ vợ cũng như bố mẹ mình.
-Thắt chặt và mở rộng mối quan hệ thông gia, họ hàng ngay từ buổi đầu, tình cảm được nhân đôi.
- Hai gia đình cùng trao đổi rút kinh nghiệm về việc tổ chức hôn lễ và bàn bạc về trách nhiệm của hai bên bố mẹ trong việc tác thành cuộc sống cho đôi trẻ trong tương lai.

Sự tích tơ hồng

“Tơ hồng Nguyệt lão thiên tiên” dựa theo tích Vi Cố gặp ông lão trong một đêm trăng, ngồi kiểm sách h­ớng về phía mặt trăng, sau lưng có cái túi đựng đầy dây đỏ. Ông lão bảo cho biết đây là những văn thư kết hôn của toàn thiên hạ. Còn những dây đỏ để buộc chân những đôi trai gái sẽ thành vợ thành chồng. Một hôm, Vi Cố vào chợ gặp một bà già chột mắt ẵm đứa bé đi qua. Bỗng ông già lại hiện lên cho biết đứa bé kia sẽ là vợ anh. Vi Cố giận, bảo đày tớ tìm giết đứa bé ấy đi. Người đầy tớ lẻn đâm đứa bé giữa đám đông rồi bỏ trốn. Mười bốn năm sau, quan Thứ Sử Trương Châu là Vương Thái gả con gái cho Vi Cố. Người con gái dung nhan tươi đẹp, giữa lông mày có đính một bông hoa vàng. Vi Cố gạn hỏi, vợ mới bảo: Thuở còn bé, một bà vú họ Trần bế vào chợ bị một tên cuồng tặc đâm phải. Vi Cố hỏi: Có phải bà vú đó chột mắt không? người vợ bảo: Ðúng thế! Vi Cố kể lại chuyện trước, hai vợ chồng càng quý trọng nhau cho là duyên trời định sẵn.

Mối lái là gì?
Trong xã hội phong kiến xưa “Nam nữ thụ thụ bất thân” nên hôn nhân cần phải người môi giới. nếu yêu nhau, cưới hỏi không cần mối lái sẽ bị chê trách là “Phải lòng nhau” “Mắc phải bùa yêu”. Nguyễn Du đã vạch đường cho Kim Trọng. Thuý Kiều cứ yêu nhau rồi sẽ “Liệu bài mối manh” nên các cụ nhà nho mới kịch liệt phản đối khuyên con cháu rằng:

“Ðàn ông thì chớ Phan Trần,
Ðàn bà thì chớ Thuý Vân, Thuý Kiều”

Chu Mạnh Trinh vịnh Kiều còn nói: “Chỉ vì một tội mối manh chưa có, thề thốt đã nhiều; trăng gió mắc vào, phồn hoa dính mãi”…Nếu không có “Nhà băng đưa mối” thì nhà trai làm sao biết được người thục nữ trong cửa các phòng khuê.

Trong xã hội cũ, có những người chuyên làm nghề mối lái, nếu đẹp đôi vừa lứa thì bà mối sẽ trở thành ân nhân suốt đời. lễ tơ hồng xong, tạ bà mối một nửa mâm xôi, nửa con gà kèm theo chiếc áo lụa. Chẵn tháng con đầu lòng thế nào cũng cố mời bà mối đến dự, để tỏ nghĩa tri ân. Nhưng cũng có nhiều tai hoạ do những bà mối có động cơ bất chính gây nên, để đôi trẻ suốt đời mang mối hận vì phận hẩm duyên hiu:

…”Hoặc là bởi “Mẹ thầy lộn quýt”, quên những thói mơ tôm mảng cá, qua lại ít nhiều ngọt miệng, ép uổng duyên cô nông nỗi thế, nặng tiền tài mà nhẹ gánh tình chung. Hay vì chưng “Mối lái đèo bòng”, chẳng nhằm khi vào lộng ra khơi, nói phô mật ngọt rót vào tai, dỗ dành phận gái ngẩn ngơ tình, già nhân sự để non quyền tạo hoá”…

(Trích “Văn tế sống ng­ời con gái” - Một bài văn tế khuyết danh được truyền tụng ở Hà Tĩnh vào đầu TKXX).

Ở xã hội mới cũng cần có bà mối, bà mối thời nay là ng­ời cố vấn, ng­ời đỡ đầu cho đôi trẻ xây dựng hạnh phúc lâu dài. trong tương lai, có lẽ vai trò của bà mối là những phương tiện thông tin đại chúng (như quảng cáo trên Ðài truyền thanh truyền hình, báo chí, chụp ảnh) và những công ty du lịch, câu lạc bộ những người độc thân…

Mẹ chồng làm gì khi con dâu bắt đầu về nhà?

Phong tục ở mỗi địa phương một khác, trái ngược nhau nhưng đều có ý nghĩa hay:

Ngày xưa ở nhiều địa phương Nghệ An, Hà Tĩnh có lệ tục mẹ chồng ra cất nón cho con dâu:

Nhà trai đặt sẵn trước ngõ một cái nồi đồng, một cái gáo, trong nồi đặt sẵn một quan tiền đồng và đựng đầy nước trong. Cô dâu vào đến cổng dùng gáo múc nước rửa mặt mũi, chân tay, mẹ chồng bước ra cất nón cho con dâu. Con dâu, một tay cầm lấy quan tiền, một tay vẫn cầm quạt che mặt. Mẹ chồng dắt con dâu vào nhà đặt quan tiền và cái quạt lên bàn thờ, cúi đầu lễ gia tiên (bốn lạy ba vái theo tư thế của nữ). Sau đó mẹ chồng dắt cô dâu cầm cả tiền và quạt vào buồng. Trong buồng đã chuẩn bị sẵn trầu nước hoa quả, giường chiếu mới. Ðôi chiếu trải úp vào nhau, do một người thân trong họ có tuổi tác, vợ chồng song toàn, con cháu đông, làm ăn nên nổi, đ­ợc gia đình mời đến trải chiếu; nếu mẹ chồng có đủ tiêu chuẩn trên thì mẹ chồng trực tiếp dọn giường trải chiếu, nh­ng bố chồng thì không được. Khi con dâu nghỉ ngơi xong, khăn yếm chỉnh tề mới bưng hộp trầu ra chào họ. Trường hợp mẹ chồng đã mất thì một bà cô hay bà dì thay thế.

Phong tục này có nhiều ý nghĩa:
- Thời xưa, con dâu trước khi về làm dâu, còn hoàn toàn xa lạ, bỡ ngỡ, chưa biết đâu là buồng đâu là bếp, ai là bố mẹ chồng. Trừ trường hợp xóm giềng quen biết nhau từ trước không tính, là thân phận con gái chưa cưới đã về nhà trai thì bị dư luận gièm pha là con nhà hư đốn. Có người chồng lại rụt rè e lệ, có trường hợp trước lễ cưới chưa hề tỏ mặt nhau, vậy nên mẹ chồng niềm nở ra đón dâu, dắt dâu vào nhà là hay, là phải lẽ. Mới bước về nhà chồng đã đ­ợc tổ tiên, ông bà, cha mẹ chồng ban phước lộc, dồi dào như nước quan tiền là biểu tượng vốn liếng của riêng mà mẹ chồng trao cho.
Nhiều địa phương lại có tục khác: Khi con dâu vừa vào đến nhà thì mẹ chồng cầm chiếc bình vôi tạm lánh sang hàng xóm ít phút.
Tục đó cũng có ý nghĩa hay: Tức là mẹ chồng đã xác định vai trò, trách nhiệm con dâu sẽ về làm chủ, mẹ chồng sẵn sàng trao quyền công việc trong nhà trong cửa cho con dâu, nhưng không phải trao toàn quyền đẩy hết trách nhiệm mà bà vẫn là người nắm quyền điều hành, vì bình vôi là vật tượng trưng cho bà Chúa trong nhà.

Tại sao phải có phù dâu

Tục lệ xưa cần có phù dâu vì hôn ngân cưỡng ép, do cha mẹ định đoạt, nhiều nơi lại có nạn tảo hôn, thông thường thì “Nữ thập tam nam thập lục”, con giá mười ba tuổi về nhà chồng đã biết gì đâu! do đó cô dâu phải có người dẫn dắt. Người dắt cô dâu gọi là phù dâu.

Ngày xưa phù dâu phải là người cô, người dì hay chị em thân thiết của cô dâu, có khả năng thuyết phục, bày vẽ cho cô dâu, được cô dâu kính nể, mến phục, được bố mẹ cô dâu ủy thác. Người phù dâu phải là người may mắn, tốt phúc, duyên ưa, phận đẹp, con gái lành mạnh ngoan ngoãn, gia đình êm ấm, đề huề có thể truyền kinh nghiệm làm dâu, làm mẹ, làm vợ cho em, cho cháu mình. Phù dâu nhiều khi còn phải ở lại năm bảy ngày sau để cho cô dâu đỡ buồn và để chỉ bảo kinh nghiệm. Thông thường phù dâu cũng trở lại với dâu rể trong lễ lại mặt.

Ðám cưới ngày xưa phải có phù đâu, không định lệ, và cũng không có danh từ “Phù rể”. Ðám cưới ngày nay, nhiều nơi có cả phù dâu, phù rể, có đám mời đến năm sáu đôi phù đâu phù rể toàn là trai thanh, gái lịch, chưa vợ chưa chồng. Có lẽ chủ yếu để cô dâu thêm bạn, chú rể thêm bầu. Hay phải chăng ngày nay chàng rể bẽn lẽn e thẹn hơn xưa, nên phải có người dẫn dắt. Hay đám cưới trước thường sinh ra nhiều đám cưới sau nên phải chăm lo đào tạo những cô dâu, chú rể tương lai.

Bánh su sê hay bánh phu thê?

Trong lễ cưới có nhiều lễ vật, nhưng không thể thiếu bánh “Su sê”, nguyên xưa là bánh “Phu thê”, một số địa phương nói chệch thành bánh “Su sê”.

Bánh su sê làm bằng bột đường trắng, dừa, đậu xanh và các thứ hương ngũ vị, nặn hình tròn, bọc bằng hai khuôn hình vuông úp lại với nhau vừa khít, khuôn làm bằng lá dừa, lá cau hoặc lá dứa, vỏ để nguyên không luộc để giữ màu xanh thắm.

Sở dĩ gọi là bánh phu thê (chồng vợ) vì đó là biểu tượng của đôi vợ chồng phận đẹp duyên ­a: vuông tròn, trong trắng mềm dẻo, ngọt ngào, thơm tho, xanh thắm, đồng thời cũng là biểu tượng của đất trời (trời tròn, đất vuông) có âm dương ngũ hành: Ruột trắng, nhân vàng, hai vỏ xanh úp lại buộc bằng sợi dây hồng.

Những cách gỡ bí cho bạn trẻ khi lo đám cưới

Ðáng lẽ mừng đám cưới như tục lệ trói buộc thành ra lo đám cưới. Tục cũ đã truyền nhiễm lâu không dễ một mai đổi ngay được. Vậy phải làm thế nào?

Ðể giúp các gia đình cưới dâu, một số gia vùng nông thôn có tục góp lễ cưới: đầu năm gia đình báo cho họ hàng xóm giềng biết dự định cưới dâu vào tháng nào, thông thường vào sau vụ thu hoạch. Lần lượt các gia đình đóng góp các khoản gạo nếp, gạo tẻ, đậu xanh, rượu hoặc tiền theo định lượng. Còn lợn gà thì gia đình nào tự liệu cho gia đình ấy. Tục góp cưới cũng giống như hội tương tế tương trợ, hội cày cấy, hội lợp nhà… luân phiên các gia đình. Ðây là một tục hay, cùng nhau lo dần đến lượt mình đỡ phải lo những khoản lớn. Tiền, quà cưới của khách, bạn đưa tới thực chất cũng là hình thức góp lễ cưới, nhưng không chủ động được kế hoạch, thứ có không cần, thứ cần không có, thành ra tốn kém. Lệ chơi họ ngày nay, chung vốn để kinh doanh buôn bán cũng là xuất phát từ hình thức góp tiền nhau để làm nhà cưới vợ, tậu trâu bò ở nông thôn. Vì xuất phát từ họ hàng giúp nhau nên mới gọi là chơi họ. Nếu Ðoàn Thanh niên địa phương nào vững mạnh, cán bộ đoàn công tâm liêm khiết tháo vát, tổ chức “Hội chơi họ cưới vợ” có kế hoạch quản lý kinh doanh sử dụng phân phối chặt chẽ, ắt được nhiều bạn thanh niên hưởng ứng, tham gia…Bước đầu cũng đã có một số địa phương tổ chức “Dịch vụ đám cưới” như mua sắm cho thuê quần áo cưới, bát đĩa, ấm chén bàn ghế, phông màn, tổ chức trang trí, chụp ảnh, ca nhạc…vừa kinh doanh gây quỹ, vừa phục vụ thuận tiện, có chế độ ưu đãi với người góp cổ phần, với Ðoàn viên.

Tiền nạp theo (hay treo) là gì?

Tiền “cheo” là khoản tiền nhà trai nạp cho làng xã bên nhà gái. Trai gái cùng làng xã lấy nhau cũng phải nạp cheo song có giảm bớt. Xuất xứ của lệ “Nạp cheo” là tục “Lan nhai” tức là tục chăng dây ở dọc đường hoặc ở cổng làng. Ðầu tiên thì người ta tổ chức đón mừng hôn lễ, người ta chúc tụng, có nơi còn đốt pháo mừng. Ðể đáp lễ, đoàn đưa dâu cũng đưa trầu cau ra mời, đưa quà, đưa tiền biếu tặng. Dần đần có những người làm ăn bất chính, lợi dụng cơ hội cũng chăng dây, vòi tiền, sách nhiễu, trở thành tục lệ xấu. Vì thói xấu lan dần, gây nhiều cản trở, triều đình phải ra lệnh bãi bỏ. Thay thế vào đó, cho phép làng xã được thu tiền cheo. Khi đã nạp cheo cho làng, tức là đám cưới được làng công nhận có giấy biên nhận hẳn hoi. Ngày xưa, chưa có thủ tục đăng ký kết hôn, thì tờ nạp cheo coi như tờ hôn thú. Nạp cheo so với chăng dây là tiến bộ. Khoản tiền cheo này nhiều địa phương dùng vào việc công ích như đào giếng, đắp đường, lát gạch, xây cổng làng… Nhưng nhiều nơi chỉ cung đốn cho lý hương chè chén. Ðã hơn nửa thế kỷ, lệ này bị bãi bỏ rồi. Thanh niên ngày nay chỉ còn thấy bóng dáng của tiền cheo qua ca dao tục ngữ.

- Nuôi lợn thì phải vớt bèo

Lấy vợ thì phải nộp cheo cho làng.

- Cưới vợ không cheo như tiền gieo xuống suối.

- Ông xã đánh trống thình thình
Quan viên mũ áo ra đình ăn cheo.

- Lấy chồng anh sẽ giúp cho
Giúp em…
Giúp em quan tám tiền cheo
Quan năm tiền cưới lại đèo buồng cau.

Thật quá cường điệu, Chứ tiền cheo không thể vượt quá tiền cưới.

Sự khác và giống nhau giữa Lễ cưới của ba miền ngày nay

Posted by webmaster on June 29th, 2007

LTS: Khá nhiều bạn đọc gửi thư về Tuổi Trẻ Online với mong muốn được tìm hiểu những nghi lễ cưới hỏi truyền thống của VN. Do vậy, chúng tôi xin trích đăng các bài viết của các nhà nghiên cứu về vấn đề này.

Ảnh: Bích Dậu

Hôn Lễ có quy định chặt chẽ của dân tộc Việt từ trước tới nay không có gì thay đổi trên nền tảng cơ bản. Ngày nay, cả 3 miền Bắc Trung Nam vẫn còn lưu truyền, mỗi nơi có một nét đặc trưng riêng biệt.

Có thể xem là những bài học kinh điển trong các nghi thức Cưới Hỏi:

Hà Nội:

Nghi thức, nghi lễ cưới ở Hà Nội so với các vùng khác có quy định nghiêm ngặt hơn, nhưng trải qua một thời gian nghi thức đó cũng đã thay đổi theo tiến bộ của xã hội. Tuy nhiên, dù có thay đổi gì cũng phải giữ 3 lễ:

Chạm ngõ là lễ tiếp xúc đầu tiên, chính thức của hai gia đình nhà trai và nhà gái. Ngày nay, những gia đình ở Hà Nội vẫn giữ nguyên nếp xưa, lễ chạm ngõ vẫn được xem là thủ tục cần thiết, để giữa hai gia đình, “chỗ người lớn” thưa chuyện với nhau. Sau lễ chạm ngõ, người con gái được xem như có nơi có chốn, bước đầu để tiến tới chuyện hôn nhân.

Sau lễ chạm ngõ là đến lễ ăn hỏi. Dù là tầng lớp nào thì cũng không thể thiếu được cơi trầu. Một lễ ăn hỏi của người Hà Nội thì không thể thiếu cốm và hồng. Nếu gia đình khá giả thì ngoài cốm - hồng và trầu cau còn có thêm lợn sữa quay. Ðồ lễ ăn hỏi gắn liền với đặc sản của vùng đất Hà Thành, gồm có: bánh cốm, bánh su sê, mứt sen, chè, rượu, trầu cau, thuốc lá…

Dù lễ vật nhiều, ít nhưng không thể thiếu bánh “su sê”, ngày xưa gọi là bánh “phu thê”, một số địa phương gọi chệch ra là bánh “su sê” là biểu tượng của đôi vợ chồng duyên phận vẹn toàn. Thông thường lễ ăn hỏi gồm có 3 lễ: lễ đàng nội, lễ đàng ngoại và lễ tại gia. Lễ tại gia thường được chia ra đưa kèm theo người được mời cưới.

Thời gian sau khi ăn hỏi đến lễ cưới thông thường là dưới 10 ngày. Lễ rước dâu ngày xưa có rất nhiều thủ tục, đi đầu đám rước là những người giàu có địa vị trong làng xã, khi đón dâu ra đến đầu làng còn có lễ chăng dây, đầu làng hoặc đầu phố (lễ chăng dây đến đầu thế kỷ XX vẫn còn), muốn đi qua phải đưa một ít tiền.

Ăn uống, tiệc tùng diễn ra trước ngày cưới 1 ngày (bây giờ thường tổ chức ngay trong ngày cưới). Sau khi Hà Nội đô thị hóa, dân cư tập trung chủ yếu ở trung tâm thành phố, là khu vực 36 phố phường thì phong tục cưới xin cũng vì thế thay đổi do tiếp thu trình độ văn hóa phương Tây.

Ðám cưới bắt đầu xuất hiện thiệp báo hỷ, khi đưa thiệp mời cưới phải đưa kèm theo chè và hạt sen (lấy từ lễ ăn hỏi). Ðến nay tục này vẫn còn được giữ lại. Nếu là đám cưới của những gia đình khá giả, phải có quả phù tang (dùng để đựng đồ lễ, dài từ 80cm đến 1m) do hai người khiêng, đựng trầu cau, lợn sơn son (tục này vẫn được giữ trước năm 1945).

Sâm banh được mở ra báo hiệu một lễ cưới bắt đầu, rượu sâm banh với bánh sâm ba là hai thứ không thể thiếu trong lễ cưới của những người phong lưu. Nhưng dù là người giàu hay nghèo trong đám cưới cũng chỉ dùng tiệc ngọt (không dùng mặn).

Trong khi đón dâu, cô dâu chú rể phải làm lễ gia tiên, lễ này như một sự tưởng nhớ đến cội nguồn, tổ tiên. Sau lễ thành hôn, hai vợ chồng tân hôn trở về nhà gái mang theo lễ vật để tạ gia tiên gọi là lễ lại mặt. Lễ này hiện nay một số đám cưới bỏ qua, từ sau lễ lại mặt bố mẹ cô dâu mới chính thức tới nhà thông gia, vì trong lễ cưới mẹ cô dâu không đi đưa dâu. Lễ lại mặt thường tiến hành vào ngày thứ hai hoặc thứ tư sau lễ cưới (gọi là nhị hỷ hoặc tứ hỷ).

NGUYỄN VINH PHÚC (nhà Hà Nội học)

Huế

Quy trình tổ chức lễ cưới ở Huế cũng có đủ các bước thủ tục như các địa phương khác, từ lễ chạm ngõ, hỏi cưới, đến tân hôn vu quy… Nhìn tổng thể, các đám cưới Huế thường diễn ra tiết kiệm, giản đơn, không phô trương, nhưng ở mỗi phần cụ thể khá cầu kỳ, với quan niệm “trọng lễ nghi khi (khinh) tài vật”.

Chuẩn bị lễ hỏi, lễ cưới, người Huế thường xem ngày giờ tốt xấu, có khi lên chùa thỉnh ý các cao tăng. Sau khi chọn ngày giờ, hai bên thông gia sẽ báo cho nhau bằng một cuộc thăm đơn giản. Việc này cũng đôi khi do đôi bạn trẻ thực hiện, nhưng phải là hai nhà có thân tình từ trước.

Ðối với đám hỏi, người Huế chỉ xem là buổi gặp mặt giữa hai gia đình và tông tộc thân thích để giới thiệu đôi bạn trẻ, không tổ chức rầm rộ. Ðám cưới Huế có các lễ: xin giờ, nghinh hôn, bái tơ hồng, rước dâu diễn ra ở nhà gái, và đón dâu, trình báo gia tiên ở nhà trai. Người Huế không có tục thách cưới, lễ vật trong lễ cưới tối thiểu chỉ gồm có mâm trầu cau, rượu trà, nến tơ hồng, bánh phu thê. Nếu khá giả, nhà trai có thể thêm bánh kem, bánh dẻo; không có “lợn quay đi lộng” như nhiều nơi. Ngoài ra, đám cưới ở Huế luôn có phù dâu, phù rể và hai đứa trẻ rước đèn đi trước. Hai đứa trẻ thường là 1 trai 1 gái, tuổi tương đương cầm lồng đèn hay cầm hoa.

Trong đêm tân hôn, đôi bạn trẻ phải làm lễ giao bôi hợp cẩn. Người Huế có tập tục để trong phòng hoa chúc một khay lễ với 12 miếng trầu, đĩa muối, gừng và rượu giao bôi. Ðôi bạn trẻ phài nhai hết 12 miếng trầu ấy, tượng trưng cho 12 tháng hòa hợp trong một năm, 12 năm hòa hợp tuần hoàn trong một giáp âm lịch. Việc ăn muối ăn gừng mang màu sắc dân gian, biểu tượng nghĩa tình nồng thắm. Còn rượu giao bôi thì theo đúng với lễ giáo phong kiến của Trung Hoa cũ.

Khi đưa dâu, thông thường bố mẹ cô gái sẽ không theo xe, mà hôm sau mới sang nhà trai, với ý nghĩa xem cô con gái ngày đầu về làm dâu có làm điều gì phật lòng nhà chồng. Buổi gặp này, hai bên thông gia đối đáp những câu khách sáo, nhắn gửi con cái cho nhau, và căn dặn con mình phải thuận thảo với gia đình bên vợ hoặc bên chồng. Hiện nay, lễ này đã được nhiều gia đình Huế giảm bớt, bằng cách khi rước dâu, bố cô gái theo về nhà trai bằng một chiếc xe khác xe hoa, và tại tiệc đãi sẽ trao đổi với nhà trai. Ba ngày sau lễ cưới, cô dâu mới được trả lại nhà bố mẹ để thu dọn tư trang về nhà chồng, bắt đầu cuộc sống làm dâu.

Tính cầu kỳ của người Huế tại lễ cưới chủ yếu trong cách hành xử. Không hề có chuyện ầm ĩ ồn ào thái quá trong các lễ và tiệc cưới. Trao đổi ngôn từ giữa hai bên thông gia, giữa bà con thân thuộc đều rất thận trọng. Việc thưa gửi, trình bày của chủ hôn, bố mẹ hai bên đều rất khuôn sáo và không bỏ sót ai.

Ðặc biệt, quan hệ tuổi mạng rất được coi trọng ở đám cưới Huế. Vị chủ hôn thường là vị cao niên trong dòng tộc hai bên, thân thuộc với gia đình, vợ con đầy đủ, không tật bệnh, tuổi không khắc kỵ đôi tân hôn. Các phù dâu phù rể là người chưa có chồng vợ, tính tình vui vẻ nhanh nhẹn. Một số nhân vật khác cũng được lựa chọn tùy phần nghi lễ phù hợp. Ðơn cử trước ngày cưới đôi tân hôn có thể đưa nhau đi may áo cưới (nếu gia đình khá giả), thì ngày giờ đi may phải tốt, chủ tiệm may là người còn cả vợ chồng, nhiều con cái, gia đình hòa thuận.

Việc bài trí phòng tân hôn phải do một người phụ nữ lớn tuổi, phúc hậu sửa soạn. Lễ vật rước dâu, nhà trai nhờ một người cao tuổi, đủ vợ chồng con cái, gia đình hòa thuận kiểm tra. Người này cũng sẽ têm trầu cau, bày cặp nến hồng trên bàn thờ gia tiên nhà gái. Sau khi lễ xong, cặp nến hồng cũng phải được người này thổi tắt. Số người nhà trai đi rước dâu luôn ở số chẵn. Trước khi đi và khi đón dâu về, nhà trai thường cử vài người đàn ông trẻ tuổi hoạt bát, đã có vợ con ra đứng đón sẵn để “lấy hên” cho đôi tân hôn.

Tiến sĩ TÔN THẤT BÌNH

Nam bộ

Hôn lễ chính cử hành tại gia đình. Vì là lễ điều kiện tiên quyết là trang nghiêm, sạch sẽ. Vị trí buổi lễ là khu vực thờ tổ tiên, trong nhà, trang trí tùy theo gia đình, phải có đủ “hương đăng hoa quả”.

- Họ hàng đàng trai đến, có người làm mai đi đầu. Phẩm vật đưa đến, ngoài trái cây, bánh kẹo, phải có trầu cau, truyền thống này nay vẫn giữ, nghe đâu có từ thời Hùng Vương dựng nước. Ðó là nét văn hóa, linh thiêng của dân tộc Việt. Phải có cặp đèn (nến) thật to, trùng với kích thước của đôi chân đèn trên bàn thờ.

Ðại diện nhà trai đến, kính cẩn mời đàng gái uống trà, rượu, và mời ăn trầu. hai bên bàn bạc với nhau vài chi tiết, tặng nữ trang, tiền mặt, không mất thì giờ vì đã thỏa thuận với nhau từ trước rồi. Xong xuôi, người trưởng tộc của đàng gái tuyên bố: “Xin làm lễ lên đèn”. Hiểu đó là kiểu “ký tên, đóng dấu” chính thức.

- Lên đèn là nghi lễ quan trọng và thiêng liêng nhất, bắt buộc phải có. Hai ngọn nến to, do đàng trai đem đến được đặt trên bàn thờ ông bà. Người trưởng tộc bèn khui một chai rượu, trong số hai chai do đàng trai đem đến. Rồi thì ông đứng trước bàn thờ ngay chính giữa, cô dâu và chú rể đứng hai bên, im lặng. Hai ngọn đèn được đốt lên, từ ngọn lửa của cái đèn trứng vịt nhỏ của bàn thờ (hiểu là lửa hương hỏa). Hai ngọn đèn cháy từ từ, đặt sát nhau vì người làm lễ đang áp vào hai tay, như khấn vái.

Khi lửa cháy đều ngọn, ông này từ từ giang cánh tay ra trao cho hai người trợ lý mỗi bên một ngọn để cắm vào chân đèn. Ngọn đèn phải cháy thong dong, đều đặn, nếu bên cao bên thấp thì sẽ có dư luận chàng rể sợ vợ, cô dâu sẽ lấn hiếp chồng. Ðề phòng nến tắt, nhiều người đóng cửa sổ thật kỹ, sợ gió tạt hoặc tạm thời tắt quạt máy.

Ngày nay, đèn chế biến bằng hóa chất, không làm bằng sáp ong như xưa nên dễ tắt bất ngờ. Trong lúc lên đèn, có sự tôn nghiêm kỳ lạ. Lửa là sự sống, là niềm lạc quan. Lửa nối quá khứ, nối tổ tiên đến hiện tại. Lửa nối mặt đất lên trời. Lửa dịp lễ hội ở đình làng, với đèn. Lửa ở ngay cà những Thế vận hội. Lễ lên đèn theo tôi là lễ quan trọng, bắt buộc phải có ở mọi hôn lễ từ xưa đến nay. Lên đèn là đủ rồi.


Wordpress Themes by Long Bui
Copyright © 2008 Nói nhảm. All rights reserved.